Ngày 05-05-2026, Chính phủ ban hành Nghị định 144/2026/NĐ-CP nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP đã được điều chỉnh trước đó bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP.
Nghị định mới chính thức có hiệu lực từ ngày 20-06-2026 với hàng loạt thay đổi đáng chú ý liên quan đến đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào và điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt.

Những sửa đổi lần này được đánh giá có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán cũng như nhiều đơn vị thường xuyên phát sinh giao dịch trả chậm, trả góp.
Bổ sung thêm nhiều đối tượng không chịu thuế GTGT
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Nghị định 144/2026/NĐ-CP là mở rộng nhóm đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo Điều 4 của Nghị định 181/2025/NĐ-CP.
Theo quy định mới, các dịch vụ bảo hiểm sau thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT:
- Bảo hiểm nhân thọ.
- Bảo hiểm sức khỏe.
- Bảo hiểm người học.
- Các dịch vụ bảo hiểm liên quan đến con người.
- Bảo hiểm vật nuôi, cây trồng.
- Các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp.
- Bảo hiểm tàu thuyền và thiết bị phục vụ khai thác thủy sản.
- Hoạt động tái bảo hiểm.
- Bảo hiểm công trình dầu khí, tàu chứa dầu của nhà thầu nước ngoài hoạt động tại vùng biển Việt Nam.
Việc bổ sung quy định này giúp xác định rõ hơn phạm vi áp dụng chính sách thuế đối với lĩnh vực bảo hiểm, đồng thời tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho doanh nghiệp trong quá trình kê khai và hạch toán thuế.
Sửa đổi quy định về hoạt động bán nợ không chịu thuế GTGT
Đối với lĩnh vực tài chính, ngân hàng và thương mại, Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi quy định liên quan đến hoạt động bán nợ thuộc diện không chịu thuế GTGT.
Theo đó, hoạt động bán nợ được xác định bao gồm:
- Bán khoản phải thu.
- Bán khoản phải trả.
- Bán chứng chỉ tiền gửi.
So với quy định trước đây, nội dung mới đã bỏ giới hạn “giữa người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng”, qua đó mở rộng phạm vi áp dụng cho nhiều loại hình doanh nghiệp và tổ chức tài chính.
Quy định này góp phần giảm vướng mắc trong thực tế khi xác định nghĩa vụ thuế đối với hoạt động chuyển nhượng công nợ.
Điều chỉnh quy định đối với tài nguyên, khoáng sản xuất khẩu
Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi khoản 14 Điều 4 liên quan đến sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản.
Theo đó, các sản phẩm thuộc danh mục tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến hoặc đã chế biến nhưng thuộc diện Nhà nước không khuyến khích xuất khẩu sẽ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.
Danh mục cụ thể được quy định tại Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo nghị định.
Ngoài ra, Bộ Công Thương được giao nhiệm vụ rà soát và đề xuất điều chỉnh danh mục này theo từng giai đoạn nhằm phù hợp với định hướng quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế – xã hội.
Quy định mới cho thấy xu hướng siết chặt hoạt động xuất khẩu tài nguyên thô, đồng thời khuyến khích chế biến sâu trước khi xuất khẩu.
Sửa đổi nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Một điểm quan trọng khác của Nghị định 144/2026/NĐ-CP là sửa đổi quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho hoạt động chịu thuế và không chịu thuế.
Theo quy định mới:
- Doanh nghiệp chỉ được khấu trừ phần thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động chịu thuế.
- Phải hạch toán riêng phần thuế được khấu trừ và không được khấu trừ.
- Nếu không hạch toán riêng được thì phải phân bổ theo tỷ lệ doanh thu chịu thuế trên tổng doanh thu phát sinh trong kỳ.
Tổng doanh thu dùng để xác định tỷ lệ phân bổ bao gồm:
- Doanh thu chịu thuế GTGT.
- Doanh thu không chịu thuế GTGT.
- Giá trị gia tăng từ hoạt động mua bán vàng bạc, đá quý.
- Doanh thu thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.
Đối với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm, doanh thu được xác định theo quy định pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Điểm mới này giúp doanh nghiệp có căn cứ rõ ràng hơn khi xác định tỷ lệ khấu trừ thuế GTGT đầu vào, hạn chế rủi ro sai sót trong quá trình kê khai thuế.
Quy định mới về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt

Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm hoặc trả góp từ 5 triệu đồng trở lên.
Theo đó, doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT đầu vào khi có:
- Hợp đồng mua bán bằng văn bản.
- Hóa đơn GTGT hợp lệ.
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định.
Trường hợp chưa đến hạn thanh toán theo hợp đồng nên chưa có chứng từ thanh toán, doanh nghiệp vẫn được tạm khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Tuy nhiên, đến thời hạn thanh toán nếu vẫn không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp phải kê khai điều chỉnh giảm phần thuế GTGT đã khấu trừ tương ứng.
Sau khi bổ sung chứng từ hợp lệ, doanh nghiệp được kê khai khấu trừ lại tại kỳ tính thuế phát sinh chứng từ.
Quy định này tạo sự linh hoạt hơn cho doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng yêu cầu kiểm soát chặt chẽ hồ sơ thanh toán để tránh rủi ro về thuế.
Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì trước khi Nghị định có hiệu lực?
Với nhiều thay đổi liên quan trực tiếp đến hóa đơn, chứng từ và khấu trừ thuế GTGT, doanh nghiệp nên chủ động:
- Rà soát hoạt động mua bán trả chậm, trả góp.
- Kiểm tra điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt.
- Đối chiếu doanh thu phục vụ phân bổ thuế đầu vào.
- Kiểm tra nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT.
- Cập nhật quy trình kế toán và kê khai thuế theo quy định mới.
Việc chuẩn hóa dữ liệu kế toán và chứng từ ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể nguy cơ bị truy thu hoặc xử phạt khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra.
FAST e-Invoice đáp ứng quy định mới về thuế GTGT
Fast e-Invoice hỗ trợ doanh nghiệp quản lý hóa đơn điện tử và chứng từ thanh toán theo đúng quy định hiện hành thông qua nhiều tính năng:
- Quản lý hóa đơn điện tử tập trung.
- Kết nối dữ liệu kế toán – hóa đơn đồng bộ.
- Hỗ trợ đối soát chứng từ nhanh chóng.
- Lưu trữ và tra cứu hóa đơn thuận tiện.
- Cập nhật kịp thời các thay đổi mới về chính sách thuế.
Trong bối cảnh chính sách thuế liên tục thay đổi, việc ứng dụng phần mềm hóa đơn điện tử phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp giảm áp lực xử lý thủ công và nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu tài chính – kế toán.
